Nợ máu của các chiến sĩ


Nợ máu của các chiến sĩ

Lữ Giang

Ngày 29.4.2000, nữ ký giả Marcella Bombardieri đã viết trên tờ Boston Global một bài dưới đầu đề “Nguyễn Văn Thiệu sống ẩn dật ở Boston” để nói về cuộc sống của ông Thiệu tại Boston và dư luận nghĩ gì về ông.

Bà cho biết ông Thiệu và vợ, bà Mai Anh, có ba người con đã thành niên. Do quyết định của con cái, hai ông bà về định cư tại Hoa Kỳ, thoạt đầu ở khu ngoại thành Newton, sau đó chuyển đến khu Foxborough. Các hồ sơ cho thấy trong năm 1995, ông Thiệu đã bán bất động sản của ông tại Newton với giá 775.000 mỹ kim, và mua căn nhà hiện tại với giá 372.000 mỹ kim. Ông phủ nhận các bản  phúc trình nói rằng ông lấy cắp tiền.

Theo ký giả Bombardieri, bà Mary Trương, một lãnh tụ  của Liên Minh Phụ Nữ Gốc Việt ở Massachusetts, cho hay là ngay những người Việt ở Boston cũng ít ai hay biết ông Thiệu đang sống giữa khu vực này với họ. Bà Trương bảo rằng chắc không có mấy ai hoan nghênh ông Thiệu, người lãnh tụ mà họ tin là đã hỏng, người ấy đã làm cho họ thất vọng. Bà nói: “Trước đây, nhiều người từng cảm thấy phẫn nộ với ông Thiệu, đến nỗi nếu họ gặp là họ cán xe lên ông ấy.”

Ký giả Bombardieri nhắc lại rằng sử gia George Herring, một người chuyên khảo cứu về Việt Nam thuộc Đại học Kentucky, và một số người Việt đã phê bình mạnh mẽ nhất đối với ông Thiệu về những tính toán chiến thuật nhầm lẫn trong tháng tư 1975, khi ông ra lệnh triệt thoái  khỏi Cao Nguyên. Lệnh này đưa đến tình trạng binh sĩ của ông tháo chạy hỗn loạn và đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ.

Trong bài “Kẻ giết Tổng Thống Thiệu”, chúng tôi đã trình bày khá đầy đủ các dẫn chứng cho thấy Tổng Thống Thiệu quá yếu kém về cả chính trị lẫn quân sự và nghe lời của tướng Ted Serong, một chuyên gia về du kích chiến của Úc, làm mất miền Nam một cách nhanh chống. Đó là những bằng chứng không thể biện minh được. Trong tuần này chúng tôi sẽ nói đến sự yếu kém về quân sự và tinh thần thiếu trách nhiệm của ông Thiệu đã gây ra những cảnh thê thảm cho các các chiến sĩ VNCH và đồng bào, nhất là ở Phước Long, liên tỉnh lộ 7 và Quân Khu I.

ĐEM CON BỎ CHỢ Ở PHƯỚC LONG

Trong cuốn “Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa”, Đại Tướng Cao Văn Viên cho biết đầu tháng 10 năm 1974, qua các tin tức thu thập từ tình báo, phản gián, hồi chánh và tù binh, Bộ Tổng Tham Mưu biết được kế hoạch của Cộng Quân chuẩn bị đánh chiếm Phước Long. Tin này đã được chuyển đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long (tr. 99).

Đại Tá Từ Vấn, Tham Mưu Trưởng của Sư Đoàn 5, đã nói với chúng tôi rằng sau khi nhận được các tin mật của Cộng quân, Sư Đoàn 5 được Bộ Tổng Tham Mưu giao trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ Phước Long. Sư Đoàn 5 đã đề nghị cho hai trung đoàn tăng cường cho Phước Long. Kế hoạch nầy đã được chuyển về Bộ Tổng Tham Mưu. Theo lệnh của Tổng Thống, tất cả các cuộc điều quân từ cấp trung đoàn trở lên đều phải có lệnh của Tổng Thống, vì thế Đại Tướng Cao Văn Viên phải chuyển toàn bộ kế hoạch phòng thủ này lên cho Tổng Thống. Mặc dầu tình hình rất khẩn trương, Tổng Thống Thiệu đọc rồi cất đó.

Trong một cuộc họp tại Dinh Độc Lập. Tổng Thống Thiệu nói Phước Long không quan trọng, tức không cần phải giữ Phước Long, trong khi địch coi Phước Long là nơi tập trung quân để đánh thẳng vào Sài Gòn nên phải chiếm bằng mọi giá! Tổng Thống nói vu vơ: “Có thể Cộng Sản đánh chiếm Quảng Trị trên cơ sở cô lập Huế – Đà Nẵng. Lấy Kontum để áp lực Bắc Bình Định, lấy Tây Ninh làm thủ đô và ung thối đồng bằng sông Cửu Long.”

Ngày 30.12.1974, Cộng quân bắt đầu đánh Phước Long và Núi Ba Rá. Ngày 2.1.1975, một cuộc họp khẩn cấp do Tổng Thống Thiệu chủ tọa được tổ chức tại Dinh Độc Lập để duyệt xét tình hình.

Phước Long lúc đó chỉ có 5 tiểu đoàn Địa Phương Quân với cấp số từ 750 đến 900 mỗi tiểu đoàn, 48 trung đội Nghĩa Quân tổng cộng khoảng 1000 người. Nếu muốn bỏ Phước Long, phải lập kế hoạch rút quân ngay. Tuy nhiên, để tránh trách nhiệm, Tổng Thống Thiệu đã lấy tờ trình về kế hoạch bảo vệï Phước Long của Quân Đoàn 3 ra và viết vắn tắt mấy chữ bên lề cho Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn 3: “Báo Trung Tướng điều nghiên, tùy nghi quyết định. Cần lưu ý động viên các chiến hữu tử thủ.” Sau đó ông chỉ thị: “Cho thả hai đại đội Biệt Kích Dù xuống Phước Long.” Mội câu hỏi được đặt ra: Đã quyết định bỏ Phước Long mà còn ra lệnh “tử thủ”  và thả 2 đại đội Biệt Kích 81 Dù xuống để làm gì? Phải chăng ông muốn nướng quân để đánh lừa dư luận rằng ông không quyết định bỏ Phước Long?

Ngày 6.1.1975 Phước Long bị thất thủ. Đại Tá Đỗ Công Thành, Tỉnh Trưởng Phước Long, và Trung Tá Thông, Chỉ Huy Biệt Kích Dù, đã hướng dẫn anh em Biệt Kích 81 và một số binh sĩ rút lui theo khe thông thủy tiến đến bờ sông. Nhưng khi đến đây thì bị phát hiện, Cộng quân đã bắn rất dữ dội. Máu đỏ cả sông. Một số qua sông được, nhưng đa số bị kẹt lại. Không Quân đã được gọi đến hủy diệt toàn bộ tỉnh lỵ Phước Long.

MÁU THẤM ĐẦY CON ĐƯỜNG SỐ 7

Sau khi Ban Mê Thuột mất, lúc 11 giờ trưa ngày 14.3.1975 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã họp với các tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang và Phạm Văn Phú tại Cam Ranh để thực hiện chiến lược “Đầu bé đít to” mà ông đã định trước. Tướng Thiệu giả hỏi Tướng Viên còn quân trừ bị để tăng cường cho Quân Khu 2 không. Tướng Viên trả lời không còn. Ông quay lại hỏi Tướng Phú nếu không có quân tăng viện, sẽ giữ được Cao Nguyên bao lâu. Tướng Phú trả lời rằng có thể giữ được một tháng nếu được bổ sung quân số, tiếp tế đầy đủ đạn dược và không quân yểm trợ. Tướng Thiệu bảo không có thể thỏa mãn được và ra lệnh rút khỏi Kontum và Pleiku.

Tướng Thiệu quay qua Tướng Viên và hỏi có thể rút bằng đường 19 (nối Pleiku với Quy Nhơn) được không. Tướng Viên nói rằng trong chiến tranh Đông Dương, chưa có lực lượng nào rút theo con đường 19 mà không bị tiêu diệt. Tướng Thiệu lại hỏi rút theo con đường 14 thì như thế nào. Tướng Viên trả lời rằng càng không thể được. Sau một hồi bàn cãi, Tổng Thống Thiệu và các tướng lãnh quyết định chỉ có thể rút theo tỉnh lộ 7 nối liền Pleiku và Phú Yên. Con đường này tuy bỏ hoang từ lâu và rất xấu, nhưng tạo được bất ngờ. Tướng Thiệu ra lệnh bỏ lại các lực lượng địa phương và dân chúng. Ông nói địa phương quân toàn là người Thượng thì “trả chúng về với Cao Nguyên”.

Cuộc họp này cho thấy Tổng Thống Thiệu muốn rút quân từ Kon Tum và Pleiku về Tuy Hoà, nhưng chưa hề ra lệnh nghiên cứu về kế hoạch rút quân. Trong lịch sử quân sự, chưa có ai rút quân theo kiểu như vậy, nhất là khi rút một đơn vị lớn, trừ trường hợp phải tháo chạy.

Tổng Thống Thiệu ra lệnh không được cho Mỹ biết lệnh rút quân. Vì thế, Trung Tướng Đặng Văn Quang, một nhân viên CIA được gài bên Tổng Thống Thiệu để lấy tin tức đã không dám báo cho CIA biết. Khi CIA hay, đã sa thải Tướng Quang ngay. Mặc dầu có lệnh cấm, người đầu tiên báo cáo cho CIA là Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2. Tướng Phú định bắn Đai Tá Lý nhưng Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng Quản Trị ngăn can nên ông lại thôi.

Lúc đó QLVNCH tại Cao Nguyên có các Liên Đoàn Biệt Động Quân 21, 22, 23, 24 và 25, được tăng cường thêm 3 Liên Đoàn biệt phái từ Sài Gòn lên là 4, 6 và 7. Sư đoàn 23 gồm các Trung Đoàn 44, 45 và 53. Như vậy quân số lúc đó khoảng 24.000, chưa kể không quân, thiết giáp, công binh, địa phương quân và nghĩa quân.

Sáng ngày 15.3.1975, hai Liên đoàn 6 và 23 BĐQ từ Kon Tum được chuyển về Pleiku. Dân chúng chạy theo gây ra náo loạn.

Lúc 13 giờ chiều 15.3.1975 cuộc di tản bắt đầu. Thiết đoàn 19 và hai liên đoàn 6 và 4 BĐQ mở đường đã vượt qua khỏi Phú Bổn, đèo Tuna và quận Phú Túc, tiến về tới Củng Sơn, bảo vệ cho Công Binh làm cầu. Sáng 16.3.1975 người ta thấy Thiết Đoàn 2 dẫn đầu đoàn quân và dân tiến về Phú Bổn, kéo theo sau một đoàn quân xa khoảng 2000 chiếc và một đoàn xe dân sự đủ loại cũng gần 2000 chiếc. Đoàn di tản đi rất chậm vì đường hẹp, bị hư hỏng và thường đạp lên nhau để tiến tới trước.

Quả thật cuộc rút quân quá bất ngờ. Phải đến 8 giờ tối 19.3.1975, Bộ Tư Lệnh Tây Nguyên của Cộng quân mới ra lệnh cho tiểu đoàn 9 thuộc trung đoàn 64, Sư đoàn 320, đang đóng chốt ở Thuận Mẫn, đem quân chận ở đèo Tuna cách Phú Bổn khoảng 4 cây số và pháo kích vào đoàn quân và dân đang di tản. Chuẩn Tướng Phạm Văn Tất (mới được thăng) chỉ huy ở trên trời, ra lệnh cho Liên đoàn 25 BĐQ đang đi tập hậu cùng với thiết giáp phá chốt ở đèo Tuna. Đại Tá Nguyễn Văn Đồng, Tư Lệnh Thiết Đoàn 2, chỉ huy dưới đất, cho tôi biết Biệt Động Quân, thiết giáp và không quân đã không phá nổi chốt này. Chiếc xe tăng nào lên, chúng bắn cháy chiếc đó. Địch lại pháo kích dữ dội vào tỉnh lỵ Phú Bổn và đoàn quân di tản. Quân và dân chạy tán loạn, không còn chỉ huy được. Ông và một số quân nhân phải lội bộ đi vòng dưới chân đèo Tuna để vượt qua, nhưng cuối cùng đã bị bắt.

Tại Ban Mê Thuột và Quảng Đức, Sư Đoàn 23, hai Liên Đoàn 21 và 25 BĐQ cũng bị tan rã. Cộng quân đã chận tất cả các đường rút quân.

Một cuộc kiểm tra cho biết có ít nhất 3/4 lực lượng của Quân đoàn II đã bị Cộng quân tiêu diệt, bắt sống, đào ngũ hay rã ngũ. Khoản 400.000 dân chúng di tản theo đoàn quân, chỉ có khoảng 1/4 phần tư đến nơi. Hàng nghìn người đã chết do hỏa lực của cả hai bên, do đuối sức hay đói. Đa số phải trở lại Pleiku.

Trên đây chỉ là những nét đại cương.

TRÒ MA BÙN CỦA TỔNG THỐNG THIỆU

Trong bài “Vì Sao Tôi Bỏ Quân Đoàn I?”, Tướng Ngô Quang Trưởng cho biết ngày 13.3.1975 ông được mời vào họp tại Dinh Độc Lập. Tổng thống Thiệu cho ông biết phải rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm nay. Như vậy lệnh này đã được ban ra một ngày trước khi họp tại Cam Ranh ra lệnh cho Tướng Phú rút khỏi Quân Khu 2!

Khi về lại Đà Nẵng, ông gọi cho Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, nhờ nói với Tổng Thống cho ông được dùng mọi cách để giữ Huế và Vùng I. Tổng Thống chấp thuận. Nhưng đến chiều, Tổng Thống lại bảo Tướng Cao Văn Viên ra lệnh cho Tướng Trưởng phải bỏ Huế.

Lúc đó tại Quân Đoàn I đang có 3 sư đoàn bộ binh là Sư Đoàn 1, Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 3, và 5 Liên Đoàn Biệt Động Quân, lại được tăng cường thêm Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và hai Lữ Đoàn Dù. Tại Huế có Sư Đoàn 1 (4 trung đoàn), Lữ Đoàn 147 TQLC (phòng thủ tuyến An Lỗ) va Liên Đoàn 15 BĐQ (đóng ở Hương Điền).

Tổng Thống Thiệu ra lệnh rút Lữ Đoàn 3 Dù về Khánh Dương. Bộ Tổng Tham Mưu phải tái phối trí lại TQLC. Bộ Tư Lệnh TQLC và hai lữ đoàn 258 và 369 TQLC di chuyển về Đà Nẵng. Lữ Đoàn 147 TQLC do Đại tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy ở lại Huế làm nút chận tại phía nam cầu An Lỗ.

Ngày 18.3.1975, Tướng Trưởng lại vào Sài Gòn gặp Tổng Thống Thiệu trình bày kế hoạch giữ ba “đầu cầu” (enclaves) là Huế, Đà Nẵng và Chu Lai (bỏ Quảng Trị). Tổng Thống Thiệu chấp thuận. Tướng Trưởng còn báo cáo về những khó khăn do dân từ khắp nơi đổ về Đà Nẵng trên nửa triệu.

Trưa 19.3.1975, Tổng Thống Thiệu lên đài phát thanh ra lệnh tử thủ Huế, nhưng đền 14 giờ 30 ngày 20.3.1975, ông lại đánh cho Tướng Trưởng một công điện như sau:

“Phương tiện eo hẹp về không quân và hải quân chỉ cho phép yểm trợ một “enclave” mà thôi. Vậy nên “mener” trì hoản chiến về tuyến đèo Hải Vân nếu tình hình cho phép”.

Đây là một trò ma tịt ma bùn của Tổng Thống Thiệu. Ông vừa lên đài phát thanh ra lệnh tử thủ Huế vừa ra lệnh cho Tướng Trưởng bỏ Huế với mục đích đổ tội bỏ Huế cho Tướng Ngô Quang Trưởng!

Tối 20.3.1975, Tổng Thống Thiệu lại ra lệnh rút thêm Lữ Đoàn 2 Dù về Saigon. Tướng Trưởng liền đánh cho Tổng Thống Thiệu một công điện xin từ chức vì “thấy đuối sức và bối rối”. Bộ Tổng Tham Mưu phải cho Lữ Đoàn 468 TQLC, một Lữ Đoàn thứ tư mới thành lập, đang hành quân tại Long An, ra Đà Nẵng yểm trợ.

BÃI MÁU Ở THUẬN AN

Ngày 21.3.1975, Cộng Quân dùng xe tăng tấn công, cắt quốc lộ 1 ở Truồi, giữa Huế và Đà Nẵng, và đóng chốt ở đèo Phú Gia. Đường giao thông trên bộ giữa Huế và Đà Nẵng bị cắt đứt. Vì không còn có thể vận chuyển bằng đường bộ, ngày 25.3.1975 Tướng Tưởng quyết định cho Lữ Đoàn 147 TQLC rút ra cửa Thuận An, còn Sư Đoàn 1, Liên Đoàn 25 BĐQ và Địa Phương Quân rút xuống cửa Tư Hiền rồi từ đó men theo bờ biển vào Đà Nẵng.

Lúc 4 chiều ngày 24.3.1975. Lữ Đoàn 147 TQLC được lệnh di tản về của Thuận An. Lúc 2 giờ sáng ngày 25, Lữ Đoàn này đã đến Thuận An chờ lên tàu. Khoảng 3000 dân chúng và quân nhân của các binh chủng khác chạy theo.

Sáng ngày 26, Cộng quân từ phía bắc vuợt qua cửa Thuận An và từ phía tây qua bến phà Tân Mỹ, vượt phá Tam Giang, chiếm các đồi cao bao vây Lữ Đoàn 147 TQLC. Một một chiếc LCM của Hải Quân tiến vào bờ định bốc bộ chỉ huy Lữ Đoàn 147 và thương phế binh, nhưng Cộng quân pháo kích dữ dội, một hỏa tiễn tầm nhiệt AT-3 bắn trúng tàu. Chiếc HQ 801, loại tàu lớn của Hải Quân đã đến nhưng phải đậu cách bờ khoảng 200m. Các binh sĩ TQLC phải lội ra, nhưng sóng quá lớn, không ai ra được. Địch tiếp tục pháo kích nên TQLC phải dàn trận đối phó với địch. Lúc 2 giờ chiều, Trung tướng Lâm Quang Thi bay trực thăng ngoài biển hỏi quân số dưới đất còn bao nhiêu. Dưới đất cho biết còn khoảng 3000, đủ loại binh chủng. Ông nói sẽ có tàu lớn vào đón nhưng không bao giờ thấy. Đoàn quân bỏ chạy về phía nam, bị địch chận đánh và tan rả.

Tình trạng ở cửa Tư Hiền cũng bi thảm như vậy. Tính lại, số quân nhân từ hai cửa Thuận An và Tư Hiền về tới Đà Nẵng chưa tới 1/3.

Vào tháng 7 năm 2010, đồng bào ở thôn An Dương, thuộc Quận Phú Vang, Thừa Thiên, đã khám phá ra cách bãi bể Thuận An 2km về phía nam, một mồ chôn tập thể 132 người trong đó chỉ có 7 người còn thẻ bài hay căn cước. Đồng bào đã giúp cải táng.

CHỈ BỐC THỦY QUÂN LỤC CHIẾN!

Ngày 27.3.1975 tình hình Đà Nẵng trở nên nghiêm trọng. Dân chúng và binh sĩ từ Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín và Quảng Ngãi đổ về đây quá đông, an ninh trật tự không còn kiểm soát được. Cộng quân bắt đầu pháo kích vào Đà Nẵng. Tổng Thống Thiệu không có một quyết định dứt khoát nào mà để cho Tướng Trưởng tùy nghi quyết định. Ngày 28.3.1975, khi tình hình Đà Nẵng không còn kiểm soát được, Bộ Tổng Tham Mưu cho tàu Hải Quân đến Đà Nẵng và ra lệnh chỉ đón Thủy Quân Lục Chiến. Các đơn vị khác đều bị bỏ lại, gồm Sư đoàn 3, một trung đoàn của Sư đoàn 2, các liên đoàn Biệt Động Quân, tàn quân của Sư đoàn 1, nghĩa quân và địa phương quân. Mỗi người phải tự tìm cách thoát thân.

Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, ra lệnh cho Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 16 TQLC đang đóng trên đèo Hải Vân để lại trên đó một trung đội để cầm chân địch, còn tất cả rút xuống tàu. Trung đội này đã bị hy sinh.

Ngày 29.3.1975 Quân Khu 1 hoàn toàn bị thất thủ.

TIẾNG KÊU ĐÒI NỢ MÁU

Ngày 29.9.2001, Tổng Thống Thiệu đã qua đời tại Boston, hưởng thọ 78 tuổi. Ngày 5.10.2001, báo Việt Mercury ở San Jose đã viết một bài dưới đầu đề “Về cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” nêu lên nhiểu vấn đề về ông Thiệu. Mở đầu, bài báo viết:

“Ông Nguyễn Văn Thiệu đã nhắm mắt ra đi và ông cũng mang theo tất cả những bí mật riêng tư còn lại về cuộc chiến Việt Nam mà ông là một chứng nhân lịch sử. Ông không giải thích bao nhiêu những thắc mắc về những cáo buộc tham những và về số của cải ông có mang ra khỏi nước hay không hay về nguyên do khiến ông cho rút khỏi cao nguyên đầu năm 1975.”

Bài báo nhắc đến “Ít nhứt cũng có một cuộc biểu tình tại công viên St. James ở San Jose ngày 30 tháng năm, 1993 để phản đối và nói rằng ông là “biểu tượng cho tham nhũng, và đáng lý ra ông nên tự sát một cách anh hùng thay vì bỏ chạy ra nước ngoài.” Tuy nhiên, ít ai nhắc đến nợ máu mà ông đã gây ra cho các chiến sĩ và đồng bào do các quyết định ấu trỉ và sai lầm của ông.

Điều đáng tiếc là thay vì truy điệu những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh do những sai lầm của Tổng Thống Thiệu, một số người ở San Jose, ở Sacramento, ở Orange County, ở Washington DC, ở Dallas, ở Autin, v.v. đã truy điệu kẻ gây ra nợ máu. Bài báo nói trên của tờ Việt Mercury đã viết:

“Tuy nhiên đối với những quân nhân phải đi học tập và lao động khổ sai dưới chính quyền mới thì quan điểm của họ đắng cay hơn; họ đã đổ máu và đổ mồ hôi ngoài chiến trường cho tới phút cuối cùng để sau đó phải đi học tập cải tạo trong một hoàn cảnh vẫn thường được mô tả là “mút mùa.”

Mười hai năm cải tạo, gia đình tôi tan nát, con trai tôi chết ngoài biển, con gái tôi mất tích khi vượt biên; thử hỏi lỗi tại ai?”, một cựu quân nhân hiện sống bằng tiền trợ cấp bệnh tật tại Santa Clara cho biết.”

Tiếng kêu đòi ông Thiệu đền nợ máu sẽ còn vang mãi trong lịch sử dân tộc. Ông Thiệu đã góp công đầu cho Cộng quân trong việc đánh gục VNCH.

Ngày 30.3.2011

Lữ Giang

Ghi chú: Mỗi tuần, nếu tìm không tìm thấy bài gởi đến, xin vào website motgoctroi.com, mục “Mỗi Tuần Một Chuyện”, (http://motgoctroi.com/mtmchuyen.htm) sẽ tìm thấy đầy đủ các bài trong đó.

Advertisements

About Thiên Hạ Sự

Trang mạng lập nên để phản bác mọi xuyên tạc sự thật trong cộng đồng hải ngoại và nội địa Việt Nam
This entry was posted in Mỗi Tuần Một Chuyện. Bookmark the permalink.

One Response to Nợ máu của các chiến sĩ

  1. Trong bài viết có 2 đoạn trích câu nói của TT Nguyễn Văn Thiệu trong ngoặc kép có nghĩa là nguyên văn:

    Tổng Thống nói vu vơ: “Có thể Cộng Sản đánh chiếm Quảng Trị trên cơ sở cô lập Huế – Đà Nẵng. Lấy Kontum để áp lực Bắc Bình Định, lấy Tây Ninh làm thủ đô và ung thối đồng bằng sông Cửu Long.”

    Tổng Thống Thiệu đã lấy tờ trình về kế hoạch bảo vệ Phước Long của Quân Đoàn 3 ra và viết vắn tắt mấy chữ bên lề cho Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn 3: “Báo Trung Tướng điều nghiên, tùy nghi quyết định. Cần lưu ý động viên các chiến hữu tử thủ.”

    “Cơ sở” & “Động viên” là những từ ngữ VC dùng sau 30/4/1975 mà đa số anh em CQN đi tù hoặc qua sau này thường xử dụng. TT NVT khôn g ở tù và đi trước ngày 30/4/1975 mà ông đã xử dụng được chữ của VC? Ông lỮ Giang có lộn không? LỜi Lữ Giang hay lời NVT?

    Like

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s