Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 – Tập 1: Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới 


Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố thêm và nối liền từ Âu sang Á, là thành trì của hoà bình và an ninh của các dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần quan trọng làm suy yếu một bước chủ nghĩa đế quốc. Đây là một trong những thời cơ thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa tranh thủ xây dựng tiềm lực của mình.

Trên đất nước Liên Xô, kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1951-1955) được hoàn thành trước thời hạn. Tổng sản lượng công nghiệp năm 1955 tăng 85% so với năm 1950, nhiều gấp 3,2 lần so với trước chiến tranh. Từ năm 1956 đến 1961, gần 6000 xí nghiệp lớn được xây dựng xong và đi vào sản xuất, trong đó có nhà máy thuỷ điện Lênin trên sông Vonga, các nhà máy luyện kim ở Caragađa và Quybisép v.v… Nhiều ngành sản xuất công nghiệp có những bước phát triển lớn, mặc dù trong chiến tranh đã bị tàn phá nghiêm trọng. Về than, năm 1957 Liên Xô chiếm 20% tổng sản lượng thế giới. Về dầu lửa, năm 1958, sản lượng của Liên Xô là 113 triệu tấn, đứng đầu thế giới về tốc độ khai thác dầu lửa hàng năm (từ 1953 đến 1957 mức tăng tuyệt đối hàng năm trung bình là 11,4 triệu tấn, trong khi đó, Mỹ chỉ có 8,8 triệu tấn). Từ 1950 Liên Xô đứng đầu châu Âu và thứ nhì thế giới về sản lượng điện. Năm 1958, những chiếc tuyếcbin lớn đầu tiên của trung tâm thuỷ điện Xtalingơrát với công suất 2 triệu 310 nghìn kw đã đi vào sản xuất, nâng tổng sản lượng điện của đất nước lên 233 tỷ kw/giờ. Liên Xô là nước đi đầu trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình. Tháng 6-1954, ở Liên Xô, lần đầu tiên trên thế giới, một nhà máy điện nguyên tử bắt đầu sản xuất năng lượng điện với công suất 500kw. Sau đó, nhiều trung tâm nguyên tử lớn từ 400 ngàn đến 600 ngàn kw được tiếp tục xây dựng.

Ngành nông nghiệp cũng có những bước phát triển lớn. Năm 1958, tổng số thu hoạch ngũ cốc của toàn Liên bang lên tới 8,5 tỷ pút (1 pút bằng 16,38kg) trong đó có 4,5 tỷ pút lúa mì. Từ 1954 đến 1956, diện tích vỡ hoang đạt 36 triệu héc ta, rộng hơn diện tích trồng ngũ cốc của 9 nước châu Âu cộng lại (Áo, Tây Đức, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Pháp và Italia). Diện tích trồng cây công nghiệp đạt 11,8 triệu hécta. Riêng nước Cộng hoà Udơbêkitxtan sản xuất số lượng bông bằng sản lượng của các nước Braxin, Pakitxtan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran cộng lại. Ngành chăn nuôi cũng được đẩy mạnh. So sánh năm 1953 với năm 1958, đàn bò tăng từ 55,8 triệu con lên 70,3 triệu con, đàn lợn từ 33,3 triệu con lên 48,5 triệu con, đàn cừu từ 99,8 triệu con lên 129,6 triệu con.

Mạng lưới giao thông được mở rộng. Năm 1956, mạng đường sắt có tổng số chiều dài là 120.700km; đến 1957, Liên Xô vượt lên hàng đầu trong những nước có đường sắt được điện khí hoá (với 7.700km). Đường ôtô, đường sông, đường biển, đường không được khôi phục nhanh chóng sau chiến tranh và được cải tiến rất nhiều, làm cho việc vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân được thuận tiện, an toàn. Những kết quả về xây dựng chủ nghĩa xã hội nói trên đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao.

Những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trong việc phóng vệ tinh và hành tinh nhân tạo lên vũ trụ, phóng tàu vũ trụ mang theo sinh vật và con người và điều khiển nó về quả đất được an toàn, làm cho uy tín của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên rõ rệt.

Các dân tộc yêu chuộng hoà bình đều vui mừng trước sự tiến bộ của đất nước Xôviết về chính trị kinh tế và khoa học kỹ thuật. Về đối ngoại, Liên Xô đã có nhiều cố gắng để làm dịu tình hình thế giới.

Mùa hè 1955, Chính phủ các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Giơnevơ, Liên Xô góp phần tích cực làm cho Hội nghị nhất trí tuyên bố cùng nhau làm dịu tình hình thế giới, gạt bỏ mọi đe doạ chiến tranh và giảm nhẹ gánh nặng quân sự. Tình hữu nghị giữa Liên Xô với nhiều nước Á – Phi : Ấn Độ, Inđônêxia, Ai Cập, Xyri, Apganítxtan, Miến Điện được củng cố. Việc Liên Xô thành lập quan hệ ngoại giao với Campuchia, Xuđăng, Xri Lanca, Tuynidi, Libêria và Nêpan được nhân dân trong nước và thế giới hoan nghênh. Năm 1956, bầu không khí chính trị ở Viễn Đông được cải thiện. Việc bình thường hoá quan hệ giữa Liên Xô và Nhật Bản mở ra triển vọng hợp tác có kết quả giữa hai nước. Nhiều cuộc viếng thăm qua lại của các đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô và các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nam Tư, Inđônêxia, Nhật Bản, Yêmen, Ápganixtan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari v.v…, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết chính sách đối ngoại hoà bình hữu nghị và thiện chí của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tháng 11-1956, Liên Xô đưa ra một chương trình giảm quân bị, trong đó có việc cấm dùng vũ khí A và thử vũ khí H, song Mỹ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô bành trướng thế lực của mình, đe doạ Mỹ, họ tìm mọi cách để từ chối. Tuy vậy, không đợi các nước lớn phương Tây chấp nhận giải trừ quân bị toàn bộ, năm 1957, Liên Xô đơn phương giảm bớt 1,84 triệu quân. Đối với vấn đề an ninh tập thể ở châu Âu và châu Á, Liên Xô chủ trương tạo ra ở châu Âu những đảm bảo vững chắc cho hoà bình và những điều kiện cần thiết cho sự hợp tác kinh tế lâu dài giữa tất cả các nước ở lục địa này. Liên Xô hoan nghênh hội nghị Băngđung và coi đó là “một cống hiến quý báu cho hoà bình thế giới”. Trước tình hình căng thẳng và phức tạp ở Trung và Cận Đông, tháng 2-1957, Chính phủ Xôviết gửi thông điệp cho Mỹ, Anh, Pháp đề nghị tôn trọng và thực hiện những nguyên tắc cơ ban của Bản tuyên bố chung của Hội nghị những người đứng đầu các chính phủ Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp họp ở Giơnevơ mùa hè năm 1955, bảo đảm hoà bình và an ninh ở Trung, Cận Đông và không can thiệp vào nội bộ của các nước trong khu vực này. Cụ thể là giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở thương lượng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước, không lôi kéo các nước đó vào các khối quân sự, trong đó có các nước lớn tham gia; huỷ bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài, triệt hồi quân đội nước ngoài đóng ở Trung, Cận Đông, cắt đứt việc cung cấp vũ khí cho khu vực này.

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố thêm và nối liền từ Âu sang Á, là thành trì của hoà bình và an ninh của các dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần quan trọng làm suy yếu một bước chủ nghĩa đế quốc. Đây là một trong những thời cơ thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa tranh thủ xây dựng tiềm lực của mình.

Trên đất nước Liên Xô, kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1951-1955) được hoàn thành trước thời hạn. Tổng sản lượng công nghiệp năm 1955 tăng 85% so với năm 1950, nhiều gấp 3,2 lần so với trước chiến tranh. Từ năm 1956 đến 1961, gần 6000 xí nghiệp lớn được xây dựng xong và đi vào sản xuất, trong đó có nhà máy thuỷ điện Lênin trên sông Vonga, các nhà máy luyện kim ở Caragađa và Quybisép v.v… Nhiều ngành sản xuất công nghiệp có những bước phát triển lớn, mặc dù trong chiến tranh đã bị tàn phá nghiêm trọng. Về than, năm 1957 Liên Xô chiếm 20% tổng sản lượng thế giới. Về dầu lửa, năm 1958, sản lượng của Liên Xô là 113 triệu tấn, đứng đầu thế giới về tốc độ khai thác dầu lửa hàng năm (từ 1953 đến 1957 mức tăng tuyệt đối hàng năm trung bình là 11,4 triệu tấn, trong khi đó, Mỹ chỉ có 8,8 triệu tấn). Từ 1950 Liên Xô đứng đầu châu Âu và thứ nhì thế giới về sản lượng điện. Năm 1958, những chiếc tuyếcbin lớn đầu tiên của trung tâm thuỷ điện Xtalingơrát với công suất 2 triệu 310 nghìn kw đã đi vào sản xuất, nâng tổng sản lượng điện của đất nước lên 233 tỷ kw/giờ. Liên Xô là nước đi đầu trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình. Tháng 6-1954, ở Liên Xô, lần đầu tiên trên thế giới, một nhà máy điện nguyên tử bắt đầu sản xuất năng lượng điện với công suất 500kw. Sau đó, nhiều trung tâm nguyên tử lớn từ 400 ngàn đến 600 ngàn kw được tiếp tục xây dựng.

Ngành nông nghiệp cũng có những bước phát triển lớn. Năm 1958, tổng số thu hoạch ngũ cốc của toàn Liên bang lên tới 8,5 tỷ pút (1 pút bằng 16,38kg) trong đó có 4,5 tỷ pút lúa mì. Từ 1954 đến 1956, diện tích vỡ hoang đạt 36 triệu héc ta, rộng hơn diện tích trồng ngũ cốc của 9 nước châu Âu cộng lại (Áo, Tây Đức, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Pháp và Italia). Diện tích trồng cây công nghiệp đạt 11,8 triệu hécta. Riêng nước Cộng hoà Udơbêkitxtan sản xuất số lượng bông bằng sản lượng của các nước Braxin, Pakitxtan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran cộng lại. Ngành chăn nuôi cũng được đẩy mạnh. So sánh năm 1953 với năm 1958, đàn bò tăng từ 55,8 triệu con lên 70,3 triệu con, đàn lợn từ 33,3 triệu con lên 48,5 triệu con, đàn cừu từ 99,8 triệu con lên 129,6 triệu con.

Mạng lưới giao thông được mở rộng. Năm 1956, mạng đường sắt có tổng số chiều dài là 120.700km; đến 1957, Liên Xô vượt lên hàng đầu trong những nước có đường sắt được điện khí hoá (với 7.700km). Đường ôtô, đường sông, đường biển, đường không được khôi phục nhanh chóng sau chiến tranh và được cải tiến rất nhiều, làm cho việc vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân được thuận tiện, an toàn. Những kết quả về xây dựng chủ nghĩa xã hội nói trên đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao.

Những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trong việc phóng vệ tinh và hành tinh nhân tạo lên vũ trụ, phóng tàu vũ trụ mang theo sinh vật và con người và điều khiển nó về quả đất được an toàn, làm cho uy tín của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên rõ rệt.

Các dân tộc yêu chuộng hoà bình đều vui mừng trước sự tiến bộ của đất nước Xôviết về chính trị kinh tế và khoa học kỹ thuật. Về đối ngoại, Liên Xô đã có nhiều cố gắng để làm dịu tình hình thế giới.

Mùa hè 1955, Chính phủ các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Giơnevơ, Liên Xô góp phần tích cực làm cho Hội nghị nhất trí tuyên bố cùng nhau làm dịu tình hình thế giới, gạt bỏ mọi đe doạ chiến tranh và giảm nhẹ gánh nặng quân sự. Tình hữu nghị giữa Liên Xô với nhiều nước Á – Phi : Ấn Độ, Inđônêxia, Ai Cập, Xyri, Apganítxtan, Miến Điện được củng cố. Việc Liên Xô thành lập quan hệ ngoại giao với Campuchia, Xuđăng, Xri Lanca, Tuynidi, Libêria và Nêpan được nhân dân trong nước và thế giới hoan nghênh. Năm 1956, bầu không khí chính trị ở Viễn Đông được cải thiện. Việc bình thường hoá quan hệ giữa Liên Xô và Nhật Bản mở ra triển vọng hợp tác có kết quả giữa hai nước. Nhiều cuộc viếng thăm qua lại của các đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô và các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nam Tư, Inđônêxia, Nhật Bản, Yêmen, Ápganixtan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari v.v…, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết chính sách đối ngoại hoà bình hữu nghị và thiện chí của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tháng 11-1956, Liên Xô đưa ra một chương trình giảm quân bị, trong đó có việc cấm dùng vũ khí A và thử vũ khí H, song Mỹ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô bành trướng thế lực của mình, đe doạ Mỹ, họ tìm mọi cách để từ chối. Tuy vậy, không đợi các nước lớn phương Tây chấp nhận giải trừ quân bị toàn bộ, năm 1957, Liên Xô đơn phương giảm bớt 1,84 triệu quân. Đối với vấn đề an ninh tập thể ở châu Âu và châu Á, Liên Xô chủ trương tạo ra ở châu Âu những đảm bảo vững chắc cho hoà bình và những điều kiện cần thiết cho sự hợp tác kinh tế lâu dài giữa tất cả các nước ở lục địa này. Liên Xô hoan nghênh hội nghị Băngđung và coi đó là “một cống hiến quý báu cho hoà bình thế giới”. Trước tình hình căng thẳng và phức tạp ở Trung và Cận Đông, tháng 2-1957, Chính phủ Xôviết gửi thông điệp cho Mỹ, Anh, Pháp đề nghị tôn trọng và thực hiện những nguyên tắc cơ ban của Bản tuyên bố chung của Hội nghị những người đứng đầu các chính phủ Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp họp ở Giơnevơ mùa hè năm 1955, bảo đảm hoà bình và an ninh ở Trung, Cận Đông và không can thiệp vào nội bộ của các nước trong khu vực này. Cụ thể là giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở thương lượng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước, không lôi kéo các nước đó vào các khối quân sự, trong đó có các nước lớn tham gia; huỷ bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài, triệt hồi quân đội nước ngoài đóng ở Trung, Cận Đông, cắt đứt việc cung cấp vũ khí cho khu vực này.

Ngược lại, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong các nước tư bản cũng động viên nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ nhân dân nỗ lực xây dựng chế độ mới vững mạnh, để làm chỗ dựa và góp phần ngày càng có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chung đang diễn ra sôi nổi trên khắp hành tinh. Đế quốc Mỹ cho rằng sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới dẫn đến sự tan rã của hệ thống thuộc địa, là do “cộng sản mở rộng bá quyền”, Mỹ và phe Mỹ phải ngăn chặn để bảo vệ “thế giới tự do”. Song, chủ nghĩa tư bản thế giới đang gặp nhiều khó khăn lớn, phải dựa vào Mỹ.

Nước Pháp sau thất bại ở Việt Nam đã rơi vào một tình trạng suy thoái kéo dài trong nhiều năm. Chính quyền đương thời vừa phải giải quyết hậu quả của chiến tranh Đông Dương, trong khi vẫn tiếp tục duy trì chế độ thực dân ở Angiêri bất chấp phong trào cách mạng ở đây đã phát triển thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Những cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước khác trong hệ thống thuộc địa của Pháp, việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và ổn định tình hình nội bộ, cũng như giải quyết những mối quan hệ phức tạp giữa các nước Tây Âu lúc đó, đặt chính phủ Pháp trước tình cảnh vô cùng bê bối. Nền tài chính kiệt quệ, lạm pháp tăng, số người thất nghiệp ngày càng đông. Ngay từ những năm 1951-1953, nhiều ngành kinh tế quan trọng của Pháp như khai thác than, dầu lửa, sản xuất điện bị suy sụp. Mức sống của nhân dân sút kém. Tiền lương của khoảng 60% công nhân viên thấp hơn nhu cầu tối thiểu cho đời sống. Hàng triệu gia đình không nhà cửa. Ở nông thôn, 60 vạn gia đình nông dân không có điện. Trong số 35.000 xã, chỉ có 11.000 xã được cung cấp nước sạch. Việc nhập và bán phá giá sản phẩm nông nghiệp của Mỹ càng làm cho nông dân thêm điêu đứng. Hàng triệu các nhà tiểu nông không có khả năng sinh sống trên mảnh đất của họ. Vai trò của Pháp trên trường quốc tế giảm sút nhiều. Tuy vậy, những người cầm quyền lúc đó ở Pháp vẫn đeo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược ở Angiêri, đẩy nước Pháp càng lún sâu vào cuộc tổng khủng hoảng. Tình hình trên làm cho Pháp càng bị ràng buộc vào viện trợ và chính sách của Mỹ trong các vấn đề quốc tế. Thái độ của Pháp sau Hội nghị Giơnevơ là biểu hiện của sự ràng buộc đó. Chính phủ Măngđét Phrăngxơ theo đuôi Mỹ vừa muốn thiết lập các quan hệ văn hoá và kinh tế với miền Bắc Việt Nam, để tạo những thuận lợi trong tương lai, vừa muốn không làm phật ý Mỹ để tiếp tục được Mỹ viện trợ. Chính sách đó đã bị phá sản. Pháp phải cam chịu một bề, để cho Mỹ độc chiếm miền Nam Việt Nam và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược mà Pháp không theo đuổi được. Pháp còn gia nhập khối SEATO, từ bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơnevơ mà họ đã ký kết và cam đoan thực hiện nghiêm chỉnh.

Tình hình rối ren nói trên làm cho mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền và giữa các đảng phái ở nước Pháp ngày càng sâu sắc, nhất là trong những năm từ 1954 đến 1960. Phái hữu trong chính quyền vẫn chi phối việc hoạch định chính sách của chính phủ. Vì vậy, những quyền dân chủ của nhân dân như quyền tự do báo chí, quyền tự do hội họp, v.v… Đều bị hạn chế. Ở các thuộc địa còn lại của Pháp, những hành động khủng bố, đàn áp dã man những người yêu nước, cùng với những cuộc đấu tranh đòi quyền sống, đòi hoà bình và cơm áo của nhân dân lao động diễn ra khắp nơi. Pháp càng gặp khó khăn càng phải theo đuôi Mỹ.

Nước Anh, một nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, có nền kinh tế rất mạnh, nhưng vào những năm 50 không còn giữ được vai trò quốc tế của mình như trước nữa. Hệ thống thuộc địa của Anh bị tan rã không cứu vãn được. Mặc dù Anh còn giữ được mức sản xuất công nghiệp trước chiến tranh, nhưng nền kinh tế tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng1.

Trong khi đó, sự lớn mạnh của phong trào công nhân trong nước cũng như trên thế giới, sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa làm cho những người cầm quyền nước Anh phải nhượng bộ Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế. Những giới cực hữu cho rằng lối thoát duy nhất là con đường tranh thủ viện trợ của Mỹ. Đương nhiên, viện trợ Mỹ có tác dụng đối với nước Anh, cũng như các nước khác trong việc phục hồi kinh tế, song, lại bị Mỹ chèn ép về nhiều mặt. Ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ đã chiếm của Anh những vị trí chủ chốt, giàu dầu lửa ở Trung, Cận Đông. Năm 1937, Mỹ chỉ nắm được 13% số nước có dầu ở Cận Đông, Anh nắm hơn 80%. Đến năm 1956, Mỹ đã kiểm soát được hơn 60%, còn Anh chỉ giữ được khoảng 30%. Sau thất bại trong cuộc xâm lược Ai Cập, Anh và Pháp mất nhiều ưu thế và quyền lợi ở vùng này. Ở các nước thuộc địa của Anh, hàng hoá của Mỹ đưa vào ngày càng tăng2. Đồng thời Mỹ lại kiểm soát được các nguyên liệu quan trọng ở các thuộc địa này.

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, tình hình vào những năm từ 1950 đến 1960 có nhiều điểm đặc biệt. Được Mỹ tích cực chi viện với mưu mô làm cho Tây Đức vượt hẳn lên để trở thành lực lượng chủ yếu của khối NATO. Tây Đức đã phát triển rất nhanh về kinh tế. Trong 10 năm kể từ 1950, mức tăng trung bình hàng năm của sản lượng công nghiệp đạt 9,6%. Đầu thập kỷ 60, Tây Đức đã vượt Anh, đứng thứ hai trong các nước tư bản về sản xuất công nghiệp. Với tốc độ phát triển đó, lại được Mỹ đỡ đầu và Anh, Pháp nhượng bộ, việc tái vũ trang Tây Đức được thực hiện, quân đội chính quy của nước Đức bại trận được phục hồi dưới danh nghĩa quân đội châu Âu của khối NATO.

Trong thời gian này, ở châu Á, nước Nhật đã lập lại được mức thu nhập bình quân theo đầu người của thời kỳ trước chiến tranh (1934-1936). Bước vào năm 1955, Nhật Bản không ngừng là vô địch tuyệt đối về chỉ số tăng trưởng của tổng sản lượng quốc gia (GNP). Chỉ số tăng trưởng đã đạt mức bình quân 9,9% trong suốt thập niên 1955-1965. Cũng trong năm 1955, uy tín về kinh tế của Nhật trên thế giới được đánh dấu bằng việc gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT).

Mỹ cần một nước Nhật đồng minh để đối phó với Liên Xô và Trung Quốc, biến nước Nhật thành hậu phương của cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam và thành trì của “thế giới tự do” nằm sát Trung Quốc, Liên Xô. Mỹ ký Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ. Hiệp ước nêu rõ: Nhật nằm trong hệ thống chiến lược nguyên tử của Mỹ và là căn cứ chiến tranh hạt nhân ở châu Á. Nước Nhật trở thành trung tâm để Mỹ cung cấp vũ khí, đạn dược cho khối SEATO, phục vụ cho âm mưu xâm lược và mở rộng thế lực của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Chính quyền Nhật phải thực hiện những điều khoản của Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật làm cho nhân dân rất bất bình. Năm 1960, phong trào phản kháng bùng nổ. Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Hội sinh viên quốc gia phản đối. Nhiều cuộc biểu tình nổ ra và lan rộng khắp nước. Thủ tướng Nhật Kisi buộc phải từ chức. Chuyến viếng thăm Nhật của Tổng thống Mỹ Aixenhao bị huỷ bỏ. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nhật chống lại chính sách của chính quyền, chứng tỏ quần chúng Nhật không muốn phụ thuộc vào Mỹ, làm mất chủ quyền của Nhật và gây nguy cơ lớn cho việc giữ gìn hoà bình ở khu vực và trên thế giới. Đối với Mỹ, việc viện trợ cho Nhật đã đưa lại kết quả rõ rệt trong việc biến nước này thành căn cứ quân sự lớn của Mỹ, nhưng lại làm cho nước này thành một cường quốc về kinh tế, cạnh tranh với các nước đế quốc khác, kể cả Mỹ.

Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, các nhà cầm quyền Mỹ có tham vọng “điều chỉnh thế giới” vào quỹ đạo của Hoa Kỳ. Xuất phát từ tư tưởng chống cộng sản, Mỹ lập ra nhiều căn cứ quân sự ở khắp nơi trên thế giới, nhằm bao vây Liên Xô, Trung Quốc và những nước dân chủ nhân dân. Năm 1955 là năm chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm bao vây ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên thế giới lên tới đỉnh cao. Mỹ đã đặt được khoảng 1400 căn cứ quân sự ở 31 nước, trong đó có 275 căn cứ dùng cho máy bay chiến lược ném bom nguyên tử. Những khối quân sự do Mỹ cầm đầu ra đời.

Tháng 10-1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập là một cú “sốc” mạnh đối với Mỹ. Chính quyền Mỹ lúc đó quyết định phải vạch ra một đường ranh giới không cho xuất hiện bất kỳ quốc gia cộng sản mới nào nữa ở châu Á. Trước thành công của Liên Xô về củng cố quốc phòng, có bom A và H, phóng thành công tên lửa vũ trụ, Mỹ càng lao vào cuộc chạy đua vũ trang.

Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đã làm cho chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ lo sợ. Đế quốc Mỹ trở thành tên sen đầm quốc tế, kẻ bóc lột lớn nhất và là tên trùm chủ nghĩa thực dân mới. Trong khi đó nhiều vấn đề của nội bộ nước Mỹ như những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính (1953-1954 – 1957-1958), nạn thất nghiệp, tệ phân biệt màu da, những cuộc khủng bố gây mất trật tự an ninh xã hội không được khắc phục.

Nhằm giải quyết những vấn đề trên, chính quyền Mỹ lại hướng các chủ trương của họ vào việc chống chủ nghĩa cộng sản ở khắp các châu lục. Chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn ngày càng gay gắt, nhưng vẫn có hoà hoãn bộ phận. Trong thế hình thành hai cực trên thế giới, hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vừa chống đối nhau quyết liệt, đồng thời vẫn phải hợp tác với nhau trong những chừng mực có thể chấp nhận được để giai quyết các vấn đề quốc tế.

Lợi dụng những thời khắc hợp tác hoà hoãn, Mỹ tranh thủ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ở mọi nơi bằng viện trọ và bằng hành động quân sự làm cho tình hình thế giới càng căng thẳng thêm và Mỹ càng bộc lộ rõ bản chất gây chiến và xâm lược.

Những nước đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, Tây Đức, Nhật, sau khi được Mỹ vực lên đã trở thành những đối thủ cạnh tranh lợi hại. Nước Mỹ có tiềm lực mạnh về kinh tế và quân sự, nhưng lại yếu về chính trị trên phạm vi thế giới. Không nhận ra điều đó, Mỹ thường bị động đối phó với phong trào chống Mỹ nổi lên trong nhân dân các nước châu Âu, châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Mặc dù trong những năm 50, trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ được xác định là châu Âu nhưng Mỹ phải phân tán khá nhiều lực lượng ra những nơi khác, đặc biệt ở châu Á. Tiến hành chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên, can thiệp ngày càng sâu rộng vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam, Lào và Camphuchia. Năm 1957, các nước Tây Âu lập khối Thị trường chung châu Âu không có Mỹ. Năm 1958, Tổng thống Đờgôn không cho khối NATO đặt tên lửa trên đất Pháp, đòi rút hết các căn cứ quân sự của khối này ra khỏi nước Pháp. Năm 1959 Anh cùng với ba nước Bắc Âu, hai nước Trung Âu và Bồ Đào Nha lập khối Mậu dịch tự do châu Âu cũng không có Mỹ. Những sự kiện đó làm cho mâu thuẫn trong khối các nước tư bản chủ nghĩa bộc lộ ngày càng thêm sâu sắc. Trong khi đó, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những phát triển mới, nhưng cũng nảy sinh những mối bất đồng. Chiến tranh lạnh càng phức tạp hơn. Những nước được gọi là “thế giới thứ ba” đòi hỏi Liên hợp quốc phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng về việc chấm dứt sự “chậm phát triển”. Điều này đụng đến các nước đế quốc, họ cho rằng “thế giới thứ ba” đang có xu hướng chống phương Tây. Sự hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội đối với những nước đã giành được độc lập và đang đấu tranh để xây dựng đất nước và bảo vệ hoà bình, làm cho Mỹ và các nước đế quốc khác càng ra sức chống chủ nghĩa cộng sản, chống Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chú nhân dân. Mỹ tự dựng lên những “nguy cơ cộng sản” để tự hù doạ mình bằng “học thuyết” đôminô. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân thế giới trong những năm 1950 làm cho Mỹ tìm cách ngăn chặn và dấn sâu vào sự can thiệp thô bạo ở khắp nơi.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân ở các nước tư bản liên kết, hợp thành ba dòng thác cách mạng lớn, lại có thêm điều kiện khách quan và chủ quan để tấn công vào chủ nghĩa đế quốc. Khí thế chung trong phong trào cách mạng thế giới mạnh mẽ thêm. Phấn khởi, tin tưởng, quyết tâm là đặc điểm rõ nhất của phong trào trong những năm cuối của thập kỷ 50. Hệ thống xã hội chủ nghĩa là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, chống áp bức bóc lột, là lực lượng trụ cột của phong trào đấu tranh cho hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm bao vây, chia rẽ, chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, duy trì địa vị lãnh đạo “thế giới tự do”. Chiến tranh lạnh diễn ra gay gắt. Đó là bối cảnh lịch sử tác động đến diễn biến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.
______________________________________
1. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai chi phí quân sự của Anh mất 25 tỷ bảng, tổn thất gần 1/3 trọng tải thương thuyền, mất 1/3 số vốn gửi ở nước ngoài. Số vàng và ngân phiếu dự trữ chỉ còn gần 50% Anh trở thành con nợ lớn trên thế giới, phải nhập 2/3 lương thực và hầu hết nguyên liệu (trừ than ).
2. Trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tỷ lệ hàng của Anh đưa vào là 31%, của Mỹ chỉ có 20%. Đến năm 1952, số hàng Mỹ đã ngang số hàng Anh và vượt lên trong những năm sau.

Advertisements

About Thiên Hạ Sự

Trang mạng lập nên để phản bác mọi xuyên tạc sự thật trong cộng đồng hải ngoại và nội địa Việt Nam
Bài này đã được đăng trong Lịch Sử Việt Nam, Tài Liệu. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s